GlobalStar.com.vnGlobal Star · Đối tác chiến lược
Bốn lộ trình hợp tác

Đối tác giữ quyền gì ở mỗi lộ trình hợp tác: tên trường, học liệu, đội ngũ, tiếng nói

Quyền sở hữu khác quyền sử dụng: ở từng lộ trình hợp tác, đối tác giữ gì với tên trường, học liệu và bản cải tiến, đội ngũ, quan hệ phụ huynh và quyền biểu quyết.

Close-up of an older hand resting on a small brass key placed on a closed cream folder, on a polished dark wood desk, shallow depth of field, soft side light

Ở mỗi lộ trình hợp tác, đối tác giữ một bộ quyền khác nhau. Thuê bao chương trình để đối tác giữ quyền sở hữu với tên trường, pháp nhân, đội ngũ và quan hệ phụ huynh, chỉ nhận thêm quyền sử dụng học liệu có thời hạn. Nhượng quyền và sở hữu campus để đối tác sở hữu pháp nhân và cơ sở, nhưng tên thương hiệu và học liệu chỉ là quyền sử dụng. Góp vốn thiểu số không cho đối tác quyền với một cơ sở cụ thể nào, mà cho một phần quyền sở hữu với cả pháp nhân, kèm quyền biểu quyết và quyền được thông tin.

Phân biệt quyền sở hữu với quyền sử dụng là chìa để đọc mọi điều khoản còn lại. Quyền sở hữu còn nguyên khi hợp tác chấm dứt; quyền sử dụng mất đi khi hợp đồng hết hạn, trừ phần nào được ghi rõ là giữ lại. Bài này đi qua năm nhóm quyền hay được hỏi nhất và chỉ ra chỗ nào thường cần thoả thuận thêm.

Quyền sở hữu và quyền sử dụng: hai thứ hay bị gộp làm một

Trong giao dịch giữa hai pháp nhân, cùng một tài sản có thể có hai lớp quyền. Người sở hữu một nhãn hiệu có thể cho người khác quyền sử dụng nhãn hiệu đó trong một phạm vi, một thời hạn, một vùng địa lý; người nhận quyền dùng được nhưng không bán, không cho người thứ ba dùng tiếp, và không còn dùng khi hợp đồng kết thúc. Học liệu, quy trình, phần mềm cũng vậy.

Nhầm hai lớp quyền này dẫn tới những kỳ vọng sai rất cụ thể. Có chủ trường thuê bao vài năm rồi nghĩ giáo án đã in ra, đã chỉnh cho hợp lớp mình, là của trường. Có nhà đầu tư mua một campus mang tên chung rồi nghĩ tên đó đi theo cơ sở, sau này bán lại được cùng tên. Cả hai đều không đúng nếu hợp đồng không nói khác.

Ở chiều ngược lại, cũng có những thứ đối tác sở hữu mà hệ thống không được tự ý dùng: tên riêng của trường thuê bao, dữ liệu phụ huynh mà trường là bên thu thập, hình ảnh trẻ do trường chụp với sự đồng ý của phụ huynh cho mục đích của trường. Một hợp đồng cân bằng nói rõ cả hai chiều, chứ không chỉ liệt kê những gì đối tác không được làm.

Tên trường và tiếng tăm gắn với tên

Thuê bao chương trình. Tên trường là của đối tác và ở lại với đối tác. Câu hỏi duy nhất là trường có được nói mình dạy theo chương trình Global Nexus trong truyền thông tuyển sinh không. Nói như vậy là dùng tên chương trình của người khác, nên phạm vi được phép nói, câu chữ, cách đặt tên cạnh tên trường cần ghi trong hợp đồng; hết hợp đồng thì phải thôi dùng.

Nhượng quyền. Cơ sở mang thương hiệu hệ thống, nên tiếng tăm xây dựng trong những năm hợp tác gắn với tên của hệ thống chứ không phải với tên của đối tác. Khi hợp đồng kết thúc, đối tác giữ pháp nhân và cơ sở vật chất nhưng phải gỡ tên. Phần tiếng tăm còn lại với đối tác là quan hệ với phụ huynh và đội ngũ, thứ không ai tước được nhưng cũng không chắc giữ được khi đổi tên.

Sở hữu campus. Tương tự nhượng quyền: đối tác sở hữu cơ sở nhưng tên vẫn của hệ thống. Điều này quan trọng khi tính giá trị lúc bán lại: người mua sau nhận một campus có tên chung chỉ khi hệ thống đồng ý tiếp tục hợp đồng với họ.

Góp vốn thiểu số. Thành viên không giữ quyền riêng với tên, nhưng sở hữu theo tỷ lệ chính pháp nhân đứng tên thương hiệu. Giá trị của tên đi vào giá trị phần vốn góp, với điều kiện nhãn hiệu thật sự đã được đăng ký đứng tên pháp nhân đó, không phải đứng tên cá nhân sáng lập hay một công ty khác.

Học liệu, quy trình và những bản cải tiến do đối tác làm ra

Theo Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam, quyền tác giả với một tác phẩm như giáo trình, giáo án, tài liệu đào tạo phát sinh từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không bắt buộc đăng ký; còn nhãn hiệu thì phải đăng ký tại cơ quan quản lý sở hữu công nghiệp mới được bảo hộ. Vì vậy học liệu của hệ thống thuộc về bên đã sáng tạo hoặc được chuyển giao quyền, và đối tác chỉ nhận quyền sử dụng theo hợp đồng.

Chỗ hay bị bỏ sót là những gì đối tác tự làm ra trong quá trình dùng học liệu. Giáo viên của trường thuê bao viết thêm một bộ trò chơi theo chủ đề, chụp ảnh và quay video các hoạt động mẫu, chỉnh giáo án cho hợp lớp đông. Những thứ đó là tác phẩm phái sinh hay tác phẩm độc lập, thuộc trường hay thuộc hệ thống, hệ thống có được dùng lại cho các cơ sở khác không: không có sẵn câu trả lời chung, mà phụ thuộc điều khoản cải tiến trong hợp đồng.

Một cách chia thường gặp là: bản cải tiến dựa trực tiếp trên học liệu của hệ thống thuộc hệ thống hoặc được cấp lại cho hệ thống dùng miễn phí, còn tài liệu riêng của trường không dựa trên học liệu được cấp thì thuộc trường. Dù chia cách nào, nên ghi ra từ đầu. Điều khoản cụ thể của hợp đồng cấp quyền được bàn ở mục Cấp phép chương trình giáo dục.

Đội ngũ và quan hệ với phụ huynh

Ở ba lộ trình đối tác vận hành, giáo viên, nhân viên và hiệu trưởng ký hợp đồng lao động với pháp nhân của đối tác. Đối tác giữ trọn quyền tuyển, bố trí và chấm dứt theo Bộ luật Lao động. Hợp đồng hợp tác có thể đặt chuẩn trình độ, bắt buộc đào tạo, nhưng không biến hệ thống thành người sử dụng lao động. Một điều khoản đáng chú ý ở chiều ngược lại là cam kết không lôi kéo nhân sự: hệ thống không tuyển giáo viên của đối tác sang cơ sở khác trong thời gian hợp tác, và đối tác cũng không tuyển người của hệ thống.

Quan hệ với phụ huynh phức tạp hơn vì nó gắn với tên. Ở thuê bao, phụ huynh là khách hàng của trường, rõ ràng. Ở nhượng quyền và sở hữu campus, phụ huynh ký hợp đồng dịch vụ với pháp nhân vận hành nhưng chọn trường vì tên chung, và thông tin của họ nằm trên công cụ của hệ thống. Khi hợp tác kết thúc, câu hỏi phụ huynh thuộc ai có hai lớp: về pháp lý, hợp đồng dịch vụ vẫn với pháp nhân vận hành; về thực tế, phụ huynh có thể đi theo tên sang cơ sở khác của hệ thống gần đó.

Vì vậy đối tác ở lộ trình mang tên chung nên hỏi về vùng hoạt động: hệ thống có cam kết không mở hoặc không cấp quyền cho cơ sở khác trong một bán kính quanh cơ sở của mình không, trong bao lâu, và cam kết đó còn hiệu lực sau khi hợp tác chấm dứt không.

Tiếng nói trong quyết định: biểu quyết, phủ quyết và quyền được biết

Ở ba lộ trình đầu, tiếng nói của đối tác với hệ thống chủ yếu là tiếng nói của một bên hợp đồng: quyền đòi bên kia làm đúng cam kết, quyền góp ý khi hệ thống thay đổi chuẩn, quyền chấm dứt khi bên kia vi phạm. Đối tác không có phiếu trong các quyết định nội bộ của hệ thống như đổi chương trình, tăng phí cho các hợp đồng mới, mở rộng sang vùng mới. Một số hệ thống lập hội đồng đối tác để lấy ý kiến, nhưng đó là kênh tham vấn, không phải biểu quyết.

Ở lộ trình góp vốn, tiếng nói là quyền biểu quyết theo tỷ lệ vốn góp ở hội đồng thành viên, cộng các quyền thông tin do Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cho thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn như xem sổ đăng ký thành viên, báo cáo tài chính, biên bản họp. Với vị trí thiểu số, phiếu biểu quyết hiếm khi tự mình quyết được việc gì; giá trị thật nằm ở những quyết định mà điều lệ hoặc thoả thuận giữa các thành viên yêu cầu phải có sự đồng ý của thành viên thiểu số.

Đây là chỗ cấu trúc đề xuất sáng lập giữ đa số, nhà đầu tư giữ thiểu số cần được đọc kỹ. Ngưỡng thông qua nghị quyết theo luật và theo điều lệ có thể khác nhau, và danh sách việc cần đồng thuận là nội dung đàm phán chính. Mục Cổ phần thiểu số trong doanh nghiệp giáo dục bàn từng ngưỡng và từng quyền.

Cơ sở vật chất, mặt bằng và quyền định đoạt khi muốn bán

Ở ba lộ trình đối tác vận hành, cơ sở vật chất như thiết bị, đồ chơi, nội thất, công trình cải tạo thuộc về pháp nhân của đối tác, còn mặt bằng thuộc về chủ đất hoặc được đối tác thuê lại. Hệ thống có thể đặt chuẩn về bài trí và an toàn, nhưng không trở thành chủ của những thứ đó. Điểm cần đọc kỹ là những hạng mục mang nhận diện thương hiệu: biển hiệu, màu sơn chủ đạo, đồ dùng in tên. Khi hợp tác chấm dứt, đối tác phải gỡ hoặc thay chúng bằng chi phí của ai.

Quyền định đoạt là chỗ khác biệt lớn nhất giữa sở hữu một cơ sở độc lập và sở hữu một cơ sở trong hệ thống. Chủ một trường độc lập muốn bán là bán. Chủ một cơ sở mang tên chung muốn bán thì hợp đồng với hệ thống thường yêu cầu hệ thống chấp thuận người mua mới, đôi khi cho hệ thống quyền ưu tiên mua trước với cùng điều kiện. Những điều khoản đó bảo vệ thương hiệu, nhưng cũng thu hẹp số người mua và có thể kéo dài thời gian bán.

Ở lộ trình góp vốn, thành viên thiểu số không có quyền định đoạt với một campus nào; việc bán tài sản của pháp nhân do hội đồng thành viên quyết, theo ngưỡng của luật và điều lệ. Quyền định đoạt của thành viên chỉ là với chính phần vốn góp của mình, và cũng bị giới hạn bởi quyền ưu tiên mua của các thành viên khác.

Bảng tổng hợp: đối tác sở hữu gì, được dùng gì

Bảng gom năm nhóm quyền theo hai lớp. Ô có chữ sở hữu là thứ còn lại với đối tác khi hợp tác chấm dứt; ô có chữ dùng là thứ mất đi khi hết hợp đồng, trừ phần được ghi là giữ lại.

Nhóm quyềni. Thuê baoii. Nhượng quyềniii. Sở hữu campusiv. Góp vốn
Pháp nhân và giấy phépSở hữuSở hữuSở hữu sau giao dịchSở hữu một phần pháp nhân hệ thống
Tên trước phụ huynhSở hữu tên riêngDùng tên hệ thốngDùng tên hệ thốngMột phần giá trị tên qua phần vốn
Học liệu và quy trìnhDùngDùngDùngMột phần giá trị qua phần vốn
Bản cải tiến của đối tácTheo điều khoản cải tiếnTheo điều khoản cải tiếnTheo điều khoản cải tiếnKhông áp dụng
Đội ngũSở hữu quan hệ lao độngSở hữu quan hệ lao độngSở hữu quan hệ lao độngKhông trực tiếp
Tiếng nói trong hệ thốngQuyền của bên hợp đồngQuyền của bên hợp đồngQuyền của bên hợp đồngBiểu quyết và quyền thông tin

Nhìn theo cột, có thể thấy thuê bao là lộ trình đối tác giữ lại nhiều quyền sở hữu nhất, còn góp vốn là lộ trình đối tác có một phần quyền sở hữu với nhiều thứ nhất nhưng không trực tiếp dùng được thứ nào. Hai lộ trình ở giữa đổi một phần quyền sở hữu tên lấy quyền dùng một cái tên đã có tiếng.

Câu hỏi thường gặp

Trường thuê bao có được giữ lại giáo án đã in sau khi hết hợp đồng không?

Tuỳ điều khoản chấm dứt. Nhiều hợp đồng cấp quyền yêu cầu ngừng dùng và trả lại hoặc huỷ học liệu khi hết hạn; một số cho giữ bản đã cấp để dùng nội bộ trong một thời gian chuyển tiếp. Nếu điều này quan trọng với trường, nên đàm phán ngay từ đầu chứ không đợi đến lúc chấm dứt.

Nhãn hiệu của hệ thống đã được đăng ký chưa thì kiểm ở đâu?

Thông tin về đơn và văn bằng nhãn hiệu tra được trên cơ sở dữ liệu sở hữu công nghiệp của Cục Sở hữu trí tuệ. Khi bước vào thẩm định, nên xin bản sao văn bằng bảo hộ, xem chủ sở hữu đứng tên ai, nhóm sản phẩm dịch vụ đăng ký có gồm dịch vụ giáo dục không, và thời hạn hiệu lực.

Đối tác có được dùng tên hệ thống cho một cơ sở thứ hai không?

Không tự động. Ở nhượng quyền và sở hữu campus, quyền dùng tên gắn với từng cơ sở cụ thể ghi trong hợp đồng. Mở cơ sở thứ hai dưới cùng tên cần một thoả thuận mới hoặc một điều khoản phát triển nhiều cơ sở đã ghi sẵn, kèm điều kiện về chất lượng của cơ sở đầu.

Thành viên góp vốn thiểu số có được dùng học liệu cho trường riêng của mình không?

Không. Học liệu là tài sản của pháp nhân, không phải của từng thành viên. Thành viên muốn dùng học liệu cho một trường riêng phải ký hợp đồng thuê bao như mọi đối tác khác, và quan hệ đó cần được công khai với các thành viên còn lại để tránh xung đột lợi ích.

Ảnh và video hoạt động lớp học thuộc trường hay hệ thống?

Hình ảnh trẻ trước hết gắn với quyền của trẻ và cha mẹ: việc chụp, dùng, đăng cần sự đồng ý theo mục đích cụ thể. Giữa trường và hệ thống, ai được dùng hình ảnh vào truyền thông nào phải ghi trong hợp đồng, và không bên nào được dùng ngoài phạm vi phụ huynh đã đồng ý.

Điều khoản không lôi kéo nhân sự có ràng buộc giáo viên không?

Điều khoản đó ràng buộc hai pháp nhân ký hợp đồng hợp tác, không trực tiếp ràng buộc giáo viên. Giáo viên vẫn có quyền chọn nơi làm việc theo pháp luật lao động; điều khoản chỉ cấm bên kia chủ động mời người sang trong thời gian đã thoả thuận.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926138138